Logo

Độ dày nội mạc tử cung

Tương quan giữa độ dày nội mạc tử cung qua siêu âm với tỉ lệ thai lâm sàng bằng thụ tinh trong ống nghiệm


Thành công của một chu kỳ điều trị thụ tinh trong ống nghiệm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, 2 yếu tố quan trọng nhất là chất lượng phôi chuyển vào buồng tử cung và môi trường nội mạc tử cung thuận lợi.




Nghiên cứu này nhằm khảo sát mối tương quan giữa độ dày nội mạc tử cung qua siêu âm với tỉ lệ thai lâm sàng bằng thụ tinh trong ống nghiệm.

 Các bệnh nhân được chia làm 2 nhóm: nhóm có độ dày nội mạc tử cung ( 10mm và nhóm có độ dày nội mạc tử cung > 10mm, mỗi nhóm gồm 157 bệnh nhân. Tuổi của người vợ, số phôi và chất lượng phôi chuyển vào buồng tử cung là tương đương giữa 2 nhóm. Độ dày nội mạc tử cung được đo bằng siêu âm đầu dò âm đạo vào ngày sử dụng hCG.

Nhóm có độ dày nội mạc tử cung > 10mm có tỉ lệ thai lâm sàng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có độ dày nội mạc tử cung ( 10mm (43,9% so với 25,5%, p = 0,001). Khả năng có thai lâm sàng của nhóm có nội mạc tử cung ( 10mm chỉ bằng 0,58 lần của nhóm có nội mạc tử cung dày > 10mm (RR = 0,58; khoảng tin cậy 95% = 0,42 - 0,80; p = 0,001). Không trường hợp có thai nào được ghi nhận khi độ dày nội mạc tử cung dưới 7mm.

Tóm lại, chúng tôi nhận thấy độ dày nội mạc tử cung đo qua siêu âm là một trong những yếu tố tiên lượng của chu kỳ điều trị thụ tinh trong ống nghiệm. Đây là cơ sở để các nhà lâm sàng tham vấn cho bệnh nhân về kết quả của chu kỳ điều trị, giúp họ và gia đình giảm đi các chấn thương về tâm lý, giảm chi phí cho việc chăm sóc sức khỏe và nâng cao tỉ lệ thành công.

Thành công của một chu kỳ điều trị thụ tinh trong ống nghiệm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, 2 yếu tố quan trọng nhất là chất lượng phôi chuyển vào buồng tử cung và môi trường nội mạc tử cung thuận lợi.

Nghiên cứu này nhằm khảo sát mối tương quan giữa độ dày nội mạc tử cung qua siêu âm với tỉ lệ thai lâm sàng bằng thụ tinh trong ống nghiệm.

 Các bệnh nhân được chia làm 2 nhóm: nhóm có độ dày nội mạc tử cung ( 10mm và nhóm có độ dày nội mạc tử cung > 10mm, mỗi nhóm gồm 157 bệnh nhân. Tuổi của người vợ, số phôi và chất lượng phôi chuyển vào buồng tử cung là tương đương giữa 2 nhóm. Độ dày nội mạc tử cung được đo bằng siêu âm đầu dò âm đạo vào ngày sử dụng hCG.

Nhóm có độ dày nội mạc tử cung > 10mm có tỉ lệ thai lâm sàng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có độ dày nội mạc tử cung ( 10mm (43,9% so với 25,5%, p = 0,001). Khả năng có thai lâm sàng của nhóm có nội mạc tử cung ( 10mm chỉ bằng 0,58 lần của nhóm có nội mạc tử cung dày > 10mm (RR = 0,58; khoảng tin cậy 95% = 0,42 - 0,80; p = 0,001). Không trường hợp có thai nào được ghi nhận khi độ dày nội mạc tử cung dưới 7mm.

Tóm lại, chúng tôi nhận thấy độ dày nội mạc tử cung đo qua siêu âm là một trong những yếu tố tiên lượng của chu kỳ điều trị thụ tinh trong ống nghiệm. Đây là cơ sở để các nhà lâm sàng tham vấn cho bệnh nhân về kết quả của chu kỳ điều trị, giúp họ và gia đình giảm đi các chấn thương về tâm lý, giảm chi phí cho việc chăm sóc sức khỏe và nâng cao tỉ lệ thành công.